“ĐỐI THỦ” NẶNG KÝ CỦA SẮN KM94.

HL2004-32 đã chứng tỏ được sự vượt trội của mình so với giống sắn KM94 (đối chứng) ở nhiều chỉ tiêu, nhất là năng suất, tỷ lệ tinh bột và thời gian sinh trưởng.

Sắn HL2004-32 tại mô hình khảo nghiệm (TX Thái Hòa, Nghệ An).

Giống sắn HL2004-32 là con lai của tổ hợp lai KM444 được TS. Hoàng Kim lai tạo năm 2003 tại Trung tâm Nghiên cứu thực nghiệm Hưng Lộc (Viện KHKT nông nghiệp Bắc Trung bộ). Từ năm 2004 – 2011, giống sắn này tiếp tục được Trung tâm Nghiên cứu & phát triển cây có củ (Viện Cây lương thực – cây thực phẩm) chọn lọc, đánh giá và khảo nghiệm tại nhiều vùng trung du và miền núi phía Bắc. Đến năm 2012, sắn HL2004-32 được Viện KHKT nông nghiệp Bắc Trung bộ và Trung tâm Nghiên cứu & phát triển cây có củ cùng đánh giá trên cơ sở đối chứng với giống sắn KM94. Sắn HL2004-32 được nhóm nghiên cứu do TS. Phạm Hùng Cương và Th.S Lê Thị Thanh Thủy và các cộng sự triển khai khảo nghiệm chính quy và khảo nghiệm SX giống tại Trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả & cây công nghiệp Phủ Quỳ (Viện KHKT nông nghiệp Bắc Trung bộ) tại vùng đất đỏ bazan (phường Quang Tiến, TX Thái Hòa, Nghệ An) từ năm 2012 đến nay. HL2004-32 đã chứng tỏ được sự vượt trội của mình so với giống sắn KM94 (đối chứng) ở nhiều chỉ tiêu, nhất là năng suất, tỷ lệ tinh bột và thời gian sinh trưởng… Th.S Nguyễn Tất Hóa, thành viên của nhóm nghiên cứu cho biết: “Tại mô hình, chúng tôi chọn hom giống bánh tẻ, không bị sâu bệnh, có 3 – 4 mắt từ cây giống có 6 – 10 tháng tuổi. Mật độ trồng từ 10.000 đến 12.500 cây/ha (tùy từng loại thí nghiệm) khoảng cách trung bình hàng cách hàng 1 m, cây cách cây 1 m. “Tại mô hình (năm 2014), sắn HL2004-32 chỉ đạt bình quân 38 tấn/ha là còn thấp. Với giá thu mua hiện nay 1.200 đồ/kg sắn tươi thì bà con chưa phấn khởi. Vấn đề ở đây là nhóm nghiên cứu phải chỉ cho nông dân thấy được HL2004-32 có gì nổi trội so với các giống khác ở miền Trung? Đúng là phải đưa về các vùng nguyên liệu của các nhà máy sắn thì mới chứng minh được ưu thế của nó ra sao. Còn trồng ở vùng đất đỏ bazan ở Phủ Quỳ thì sẽ thất bại vì thu nhập thấp hơn so với các loại cây trồng khác. Quá trình khảo nghiệm cũng phải đưa ra được quy trình SX phù hợp với tưng địa phương để nông dân triển khai khi HL2004-32 được công nhận”, TS Nguyễn Thế Yên chia sẻ. Lượng phân bón 10 tấn phân chuồng + 120 kg ure + 80 kg P2O5 + 120 kg K2O. Được chia làm 3 lần: Lần 1 bón toàn bộ phân chuồng và phân lân; bón thúc lần 1 (từ 20 – 30 ngày sau khi cây mọc mầm) bón 1/2 lượng đạm + 1/2 lượng kali khi làm cỏ phá váng; bón thúc lần 2 (từ 50 – 70 ngày sau khi mọc mầm) bón số còn lại của đạm và kali kết hợp làm cỏ đợt 2. Đánh giá các chỉ tiêu về thời gian sinh trưởng, năng suất và chất lượng của giống sắn HL2004-32 so với sắn KM94 (giống đối chứng) trong 3 năm (2012 – 2014) tại Trung tâm Nghiên cứu cây ăn quả & cây công nghiệp Phủ Quỳ như sau: Chiều cao cây và số lá trên thân chính HL2004-32 từ 257,83 cm, số lá/cây là 144,2 lá, trong khi KM94 có chiều cao 300,5 cm, số lá trên cây là 215 lá. TGST của HL2004-32 từ 8 – 11 tháng (ngắn hơn KM94 khoảng 1 tháng). Năng suất củ tươi của HL2004-32 là 46 tấn/ha (KM94 là 31.67 tấn/ha); hàm lượng tinh bột HL2004-32 đạt 30% (tương đương KM94). HL2004-32 có khả năng chống chịu bệnh khá, chỉ bị nhiễm nhẹ bệnh đốm nâu và bị nhện đỏ gây hại không đáng kể. KS Võ Trọng Đức, cán bộ Trạm Khuyến nông huyện Như Xuân, Thanh Hóa cho biết: “Sắn là một cây dễ trồng nhưng gây bạc màu cho đất rất nhanh. Như Xuân có 3.800 ha sắn chủ yếu là sắn KM94. HL2004-32 mới khảo nghiệm 3 năm nên chưa phản ánh chính xác năng suất của giống. Giống sắn KM94, năng suất lý thuyết là 36 tấn/ha nhưng nông dân trồng chỉ được 21 – 22 tấn/ha. HL2004-32 cũng sẽ cho kết quả như vậy khi đưa từ ruộng thí nghiệm ra đại trà. Vấn đề đặt ra cho các địa phương là phải chống bạc màu ra sao để cây sắn phát triển bền vững…”. KS Nguyễn Văn Hợi, chuyên viên Phòng Trồng trọt, Sở NN-PTNT Nghệ An cho biết: “Nghệ An đã quy hoạch 16.000 ha sắn cho 2 nhà máy sắn tại Thanh Chương và Yên Thành. Nay UBND tỉnh đã cho phép xây dựng thêm 2 nhà máy sắn nữa nên diện tích quy hoạch sắn ở Nghệ An sẽ tăng lên. Việc khảo nghiệm giống sắn HL2004-32 tại các địa phương đều cho năng suất cao hơn KM94 khoảng 10 tấn/ha là rất đáng mừng. Nó góp phần giảm áp lực mở rộng diện tích sắn ở nhiều địa phương. Tuy nhiên, để sắn HL2004-32 SX đại trà cần phải khảo nghiệm ngay tại vùng nguyên liệu của các nhà máy sắn để đưa ra quy trình SX cho phù hợp với từng địa phương và phải hoàn thiện hồ sơ để sớm được công nhận…”

TS. Nguyễn Thế Yên, Phó trưởng ban Khoa học & hợp tác quốc tế, Viện Khoa học nông nghiệp VN cho biết: “Hiện cả nước có 540.000 ha sắn. Sắn là cây dễ trồng, đầu tư thấp, mặc dù nó hại đất nhưng không thể cám nông dân trồng. Việc khảo nghiệm để tìm ra 1 giống sắn  có năng suất và chất lượng cao như HL2004-32 phù hợp với khu vực Bắc Trung bộ là cần thiết. 

Nguồn: nongnghiep.vn